Đề Xuất 2/2023 # 6 Món Ăn Chay Theo Phương Pháp Thực Dưỡng Ohsawa Đơn Giản Ngon Miệng # Top 4 Like | 10giayxantay.com

Đề Xuất 2/2023 # 6 Món Ăn Chay Theo Phương Pháp Thực Dưỡng Ohsawa Đơn Giản Ngon Miệng # Top 4 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về 6 Món Ăn Chay Theo Phương Pháp Thực Dưỡng Ohsawa Đơn Giản Ngon Miệng mới nhất trên website 10giayxantay.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Cơm lứt cuốn rong biển

Một biến tấu thú vị của gạo lứt và rong biền cùng ít lá rau, bạn sẽ có ngay món ăn vừa lạ miệng vừa có thể ăn chay, thực hiện đúng phương pháp thực dưỡng, một trong 108 món ăn chay theo phương pháp thực dưỡng ohsawa.

 

Cháo gạo lứt

Gạo lứt, đậu đỏ vo đãi sạch. Luộc sôi đậu đỏ rồi vớt ra để ráo. Cho gạo lứt, đậu đỏ, hạt sen, phổ tai, mơ muối (cắt nhỏ), bột nghệ, muối hầm ngâm với 1 lít nước trong nồi áp suất khoảng 20 phút, tắt bếp, để nửa tiếng sau đun tiếp lần 2 trong 20 phút. Có thể cho thêm rau củ theo mùa vào thành món cháo thập cẩm. Khi cho rau củ thì không ninh ngay từ đầu vì sẽ bị nồng. Nên hầm hoặc luộc rau củ riêng rồi ninh cùng cháo khi đun lần 2. Có thể ăn kèm rau thơm, hành lá. Món cháo gạo lứt ăn rất hợp vị với ca-la-thầu (củ cải ngâm tương).

 

Cơm cốm gạo lứt

 

Cơm lứt hạt kê hoặc bắp

Đãi kê, ngâm 15 phút rồi vớt ra để ráo. Đãi gạo, ngâm nước 1.30 đến 2 giờ thì vớt ra. Thêm nước sạch vào nước ngâm cho đủ 2 lon đổ vào nồi, đậy vung, đun lửa lớn cho nhanh sôi. Bỏ gạo vào, dùng đũa khuấy đều rồi đậy vung lại, để sôi lại 10 phút. Mở vung, nêm muối, khuấy đảo nhẹ và nấu gạo với nước. Cơm cạn nước, mở vung, bỏ kê vào, dùng đũa trộn đều và đậy vung nấu tiếp cho chín. Ăn với muối mè.

 

Cơm gạo lứt muối mè

Quá đơn giản để có nồi cơm ngon phải không nào! Sau khi thử hết 108 món ăn chay theo phương pháp thực dưỡng ohsawa thì đây vẫn là món có thể ăn thường xuyên nhất.

 

Bánh đa kê truyền thống

Tìm Hiểu Về Phương Pháp Ăn Thực Dưỡng

Xét theo nghĩa từ nguyên, “thực” nghĩa là ăn, “dưỡng” trong “dinh dưỡng” có nghĩa là nuôi nấng. Hiểu một cách đơn giản, thực dưỡng là một phương pháp ăn uống để giúp cơ thể khỏe mạnh, tránh khỏi các loại bệnh tật. Người có công xây dựng thực dưỡng thành một phương pháp khoa học và truyền bá ra thế giới là một triết gia – thương nhân người Nhật – Georges Ohsawa và sau này là các môn đệ của ông. Theo đó, để áp dụng thực dưỡng, người ăn cần phải áp dụng đúng 7 điều kiện, 4 nguyên tắc và sơ đồ 10 số. Mặc dù hiện nay vẫn còn một số tranh cãi xoay quanh phương pháp thực dưỡng, song không thể phủ nhận những giá trị tích cực mà này mang lại.

Gạo lứt là thực phẩm được ưu tiên hàng đầu trong thực dưỡng

Thực dưỡng là gì?

Thực dưỡng là “phương pháp dưỡng sinh thông qua ăn uống”, tức là kết hợp giữa việc ăn uống lành mạnh với sinh hoạt, suy nghĩ lành mạnh để cân bằng cuộc sống, vui vẻ và tránh được bệnh tật. Không đơn giản là ăn uống khoa học hay ăn chay, thực dưỡng đề ra những nguyên tắc riêng của mình và đã từng được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) xác nhận là phương pháp phòng bệnh và chữa bệnh khoa học, có hiệu quả.

Nói về nguồn gốc của phương pháp thực dưỡng, có thể xem đó là một câu chuyện dài về hành trình của “cha đẻ của phương pháp thực dưỡng” Ohsawa. Bắt đầu từ việc được chữa khỏi bệnh lao nhờ vào việc sử dụng thực phẩm cân bằng tính âm – dương tronh cơ thể, Ohsawa đã dành trọn tâm huyết của mình để nghiên cứu về một phương pháp ăn uống khoa học mà ông gọi là thực dưỡng. Là một triết gia, cách xây dựng phương pháp thực dưỡng của ông chịu nhiều ảnh hưởng từ thế giới quan phương Đông, tức vạn vật đều có hai mặt âm – dương, bệnh sinh ra là do mất cân bằng giữa hai yếu tố này. Vì thế, muốn khỏe mạnh, con người phải tìm cách cân bằng tính âm – dương trong cơ thể và điều này được áp dụng cả vào cách ăn uống và lối suy nghĩ, sinh hoạt hàng ngày.

Các nguyên tắc, điều kiện và sơ đồ ăn uống thực dưỡng

Việc áp dụng phương pháp thực dưỡng cần phải có ý chí cao. Càng khắt khe và thực hiện đúng các quy trình, quy tắc bao nhiêu thì con người càng đạt được đến sự cân bằng bấy nhiêu. Điều đó có nghĩa là không chỉ phòng ngừa, đẩy lùi bệnh tật mà còn giúp chúng ta trở nên, điềm tĩnh, minh mẫn hơn, “đạt được quân bình cả về thể xác lẫn tinh thần”.

Theo đó, trong các tác phẩm của mình nói về thực dưỡng, Ohsawa đã đề ra 10 mức (còn gọi là sơ đồ 10 số) ăn theo phương pháp thực dưỡng từ thấp (dễ thực hiện) đến cao (khó thực hiện nhưng hiệu quả nhanh) như sau:

-3: 10% gạo lứt – 30% rau củ xào (hấp) – 15% rau sống – 30% thịt – 10% canh súp – 5% đồ ngọt tráng miệng

-2: 20% gạo lứt – 30% rau củ xào (hấp) – 10% rau sống – 25% thịt – 10% canh súp – 5% đồ ngọt tráng miệng

-1: 30% gạo lứt – 30% rau củ xào (hấp) – 10% rau sống, trái cây – 20% thịt – 10% canh súp

1: 40% gạo lứt – 30% rau củ xào (hấp) – 20% thịt – 10% canh súp

2: 50% gạo lứt – 30% rau củ xào (hấp) – 10 % thịt – 10% canh súp

3: 60% gạo lứt – 30% rau củ xào (hấp) – 10% rau sống, trái cây – 20% thịt – 10% canh súp

4: 70% gạo lứt – 30% rau củ xào (hấp) – 10% rau sống, trái cây – 20% thịt – 10% canh súp

5: 80% gạo lứt – 30% rau củ xào (hấp) – 10% rau sống, trái cây – 20% thịt – 10% canh súp

6: 90% gạo lứt – 10% rau củ xào (hấp)

7: 100% gạo lứt

Cũng trong tác phẩm của mình, Ohsawa đã đề ra 7 tiêu chí đánh giá khi áp dụng phương pháp thực dưỡng:

Không cảm thấy mệt mỏi

Ăn ngon miệng

Ngủ ngon giấc

Trí nhớ tốt

Hòa đồng

Thông tuệ trong cả tư duy và hành động

Có niềm tin tuyệt đối vào phương pháp mà mình đang sử dụng

Phương pháp thực dưỡng được thực hiện dựa trên những nguyên tắc như sau:

1

Ăn toàn phần

Sử dụng thực phẩm hầu như chưa qua chế biến

Thực phẩm toàn phần hầu hết đều có sự cân bằng âm dương, việc chế biến quá nhiều sẽ phá vỡ tính cân bằng âm dương tự – nhiên có trong thức ăn, từ đó dẫn đến bệnh tật (vì làm trái với quy luật thiên nhiên)

Ngũ cốc nguyên cám, rau củ nguyên vỏ

2

Sử dụng thực phẩm từ thiên nhiên

Sử dụng thực phẩm đúng mùa

Thực phẩm đúng mùa là thực phẩm được lấy từ những nguyên liệu sinh sản theo đúng quy luật của tự nhiên, không chứa hóa chất, vì thế tốt cho sức khỏe con người

3

Quân bình

Sử dụng cân bằng các thực phẩm mang tính âm với các thực phẩm mang tính dương. Chẳng hạn, không nên dùng nhiều rượu vì mang tính âm nhiều, không nên ăn nhiều thịt vì mang tính dương cao…

Sử dụng thực phẩm âm quá nhiều khiến con người trở nên mềm yếu, cơ thể bị trì trệ. Trong khi đó, sử dụng quá nhiều thực phẩm mang tính dương cao sẽ khiến chúng ta trở nên bảo thủ, kiêu ngạo.

Tuy nhiên, cân bằng được giữa hai cực thực phẩm âm – dương sẽ giúp tính cách ôn hòa, có nhu – có cương, vừa điềm tĩnh lại vừa cương trực.

Nhóm thực phẩm đi từ âm đến dương (càng về sau tính dương càng tăng):

Chất gây nghiện – đường – dầu ăn – men – mật ong – nước – hạt – rong biển – rau – ngũ cốc – động vật giáp xác – cá – muối thôi – thịt – trứng – muối tinh.

Gạo lứt là thực phẩm có tính cân bằng âm -dương.

4

Tấm lòng

Thể hiện lòng biết ơn đến thực phẩm và người đã tạo ra những món ăn ngon.

Tìm Hiểu Về Phương Pháp Thực Dưỡng Số 7

Ăn dưỡng sinh Ohsawa sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh hơn (Ảnh: Internet)

Thực dưỡng Ohsawa là gì?

Thực dưỡng theo phương pháp này còn được gọi là tiết thực, có nghĩa là bạn sẽ không ăn bất cứ loại thức ăn nào khác trừ cốc loại. Nếu áp dụng cách thực dưỡng này, cơ thể bạn sẽ bị thay đổi nguồn thức ăn đột ngột, chỉ được ăn gạo lứt và muối mè 100%. Đối với người mới bắt đầu theo phương pháp này, tâm lý sợ hãi do sự khó khăn và gian nan là không thể tránh được và có thể dẫn đến việc từ bỏ sớm.

Tuy nhiên, để có khởi đầu thuận lợi hơn, bạn có thê ăn thêm bánh tráng lứt, dầu mè, bơ mè, bánh đa thái lứt… miễn sao là loại thực phẩm nằm trong cốc loại để bạn bớt nhàm chán trong bữa ăn, tạo thêm sự lạ miệng.

Một nguyên tắc quan trọng khi áp dụng ăn thực dưỡng là bạn cần ăn ít và nhai nhiều, nhai thật kỹ cho đến khi thức ăn nhuyễn như hồ và cảm nhận được vị ngọt tự nhiên của thức ăn rồi mới nuốt. Bạn cần nhai tối thiểu là 30 lần trở lên và nhai càng nhiều càng tốt.

Gạo lứt là thực phẩm cốt yếu trong cách ăn thực dưỡng số 7 (Ảnh: Internet)

Công dụng phương pháp ăn chay thực dưỡng số 7

Là mức độ cao nhất trong phương pháp thực dưỡng, áp dụng cách số 7 sẽ mang lại hiệu quả phòng và chữa bệnh cao nhất. Đây cũng là cách mà Ohsawa đã áp dụng cho chính mình.

Việc kết hợp giữa ăn thực dưỡng số 7 với sinh hoạt lành mạnh, luyện tập thể dục thể thao thường xuyên sẽ mang lại cho bạn một sức khỏe tốt và đặc biệt bạn sẽ thông tuệ hơn trước những vấn đề cần xử lý, tính tình cũng trở nên điềm đạm và từ tốn hơn.

Hướng dẫn ăn thực dưỡng theo phương pháp số 7

Như đã nói ở trên, khi áp dụng phương pháp thực dưỡng này bạn sẽ ăn gạo lứt hoàn toàn nhưng phải là loại gạo lứt nguyên cám thì mới tốt. Đây là loại gạo chỉ xát bỏ lớp vỏ bên ngoài và vẫn còn giữ nguyên lớp cám, hơi nâu và có màu vàng, đặc biệt là chưa qua tẩy trắng.

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại gạo lứt khác nhau như: gạo lứt nếp, gạo lứt tẻ, gạo lứt đen, gạo lứt đỏ… nhưng bạn dùng loại nào cũng được, miễn là gạo lứt nguyên cám, có giá trị dinh dưỡng cao.

Sở dĩ lại chọn gạo lứt cho phương pháp thực dưỡng số 7 là bởi vì thực dưỡng Ohsawa được xây dựng dựa vào nguyên lí cân bằng âm – dương. Theo đó, khi cơ thể mất cân bằng âm – dương sẽ rơi vào trạng thái mệt mỏi và dễ sinh ra bệnh tật, gạo lứt có tính quân bình âm dương tốt nhất trong các loại thực phẩm nên sẽ trung hòa âm – dương lại. Cụ thể, gạo lứt có chứa nhiều canxi, đạm, xơ, vitamin B… và không có chứa tinh bột.

Người ta thường ăn gạo lứt muối mè theo phương pháp thực dưỡng số 7, nhưng bạn có thể chế biến gạo lứt thành nhiều món ăn khác như: cháo, cơm cuộn rong biển, gạo lứt hạt bắp, hoặc trà gạo lứt để đổi bữa. Ngoài ra, trong bữa phụ bạn vẫn có thể dùng thêm trái cây hoặc sữa.

Các Phương Pháp Chế Biến Món Ăn

Các phương pháp chế biến món ăn

 Phương pháp chế biến món ăn bằng đun trong nước

Nguyên liệu được bỏ vào nước, được đun nóng cho tới khi nguyên liệu chín đạt yêu cầu chế biến. Quá trình truyền nhiệt diễn ra như sau: lửa truyền nhiệt cho dụng cụ, dụng cu truyền nhiệt cho nước. Nước hấp thu nhiệt và truyền nhiệt làm chín nguyên liệu. Môi trường truyền nhiệt để làm chín nguyên liệu là nước sôi và một phần hơi nước sôi.

Nhiệt độ môi trường luôn chủ yếu là 100oC ở điều kiện áp suất bình thường và cao hơn 100oC nếu nấu trong nồi áp suất. Thời gian làm chín bằng đun trong nước phụ thuộc vào kích thước nguyên liệu, đặc điểm, tính chất của mỗi loại nguyên liệu.

Sản phẩm của phương pháp này có các đặc điểm sau:

– Gia vị ngấm đều và có thủy phần cao do hút nước trong quá trình chế biến.

– Màu sắc nguyên liệu biến đổi ít, do nhiệt trong quá trình đun nấu không cao (hạn chế bởi 100oC).

– Cho phép chế biến những món ăn đòi hỏi độ mềm, nhừ.

1. Luộc

Luộc là phương pháp làm chín nguyên liệu bằng nhiệt, trong quá trình đun nấu nguyên liệu tiếp xúc một phần hay hoàn toàn trong nước. Các món luộc có thể sử dụng gia vị cho thêm trong khi luộc để tăng thêm hương vị cho sản phẩm. Nguyên liệu đã được sơ chế được cho vào nước lạnh, nước nóng hay nước sôi, tùy từng loại nguyên liệu, đun tới khi nguyên liệu chín đạt yêu cầu chế biến.

– Nguyên liệu dùng để luộc tương đối phong phú, nguyên liệu non thời gian luộc nhanh, nguyên liệu già thời gian lâu hơn, thực tế thường chọn nguyên liệu có độ già vừa phải. Sơ chế nguyên liệu thịt gia súc pha miếng to, gia cầm thường để nguyên, thủy sản như cá để nguyên, nếu to quá thì cắt khúc. Các loại rau để nguyên hay cắt khúc, củ giàu tinh bột như (khoai lang, khoai tây, khoai sọ, sắn…) để nguyên. Các loại quả như bí, bầu, su hào, củ cải… thái miếng đều nhau.

– Lượng nước dùng để luộc phải luôn ngập nước. Nước luộc rau có tỷ lệ 2,5-4 lít / 1kg tùy theo nhu cầu sử dụng nước nhưng nói chung nước phải ngập nguyên liệu. Nước luộc thịt gia súc, gia cầm, cá vừa đủ ngập nguyên liệu. Để luộc các loại củ giàu tinh bột như khoai, sắn chỉ cần 0,6-0,7 lít / 1kg, nguyên liệu dễ dàng chín do tính hồ hoá của tinh bột cao.

– Nhiệt độ chế biến thường cao, nước được đun sôi đều, liên tục. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào đặc điểm nguyên liệu nhiệt độ chế biến có khác nhau. Đối với nguyên liệu lâu chín sau khi sôi thường phải hạ nhiệt để nguyên liệu chín dần vào trong, đảm bảo bên trong chín mà bên ngoài không bị nát. Nguyên liệu thực vật nhanh chín nên duy trì đun sôi đều liên tục trong suốt thời gian chế biến.

– Thời gian chế biến tương đối nhanh, phụ thuộc vào tính chất, kích thước và trạng thái của nguyên liệu khi đem vào chế biến.

– Sản phẩm chín mềm hoặc chín tới, không nhũn, màu sắc biến đổi ít. Sản phẩm thường có thủy phần cao. Nguyên liệu sau khi luộc có thể sử dụng trực tiếp hoặc chế biến các món ăn khác. Trong ăn Á các nguyên liệu luộc ăn kèm cùng nước chấm phù hợp với từng loại nguyên liệu. Trong ăn Âu nguyên liệu luộc ăn kèm với thức đệm hoặc xốt.

2. Nấu canh

Nấu canh là phương pháp làm chín nguyên liệu bằng nhiệt nhận từ nước sôi, nguyên liệu ngập hoàn toàn trong nước khi nấu. Canh là món ăn lấy cả cái và nước. Có thể cho thêm gia vị, nguyên liệu phụ tùy thuộc vào từng loại canh. Nguyên liệu động vật bỏ vào từ lúc nước lạnh, thủy sản từ lúc nước sôi, thực vật vào nước sôi đã có gia vị cấp nhiệt đều đến khi nguyên liệu chín đạt yêu cầu.

– Nguyên liệu như gia súc, gia cầm thường sử dụng phần thịt nạc, thái mỏng, thái sợi hoặc băm nhỏ để chất ngọt tiết nhiều vào trong nước. Thủy sản thường là cua, hến, trai… và các loại cá nên chọn loại nhiều nạc, ít tanh. Tùy từng loại cụ thể mà có cách xử lý khác nhau. Các loại rau ăn lá thường thái khúc hoặc thái nhỏ, các loại củ thường thái chỉ, thái lát mỏng.

– Lượng nước để nấu canh thường nhiều hơn cái, có thể dùng nước lạnh hoặc nước dùng để nấu canh.

– Nhiệt độ nấu canh thường duy trì sôi mạnh hay sôi vừa.

– Thời gian chế biến tương đối nhanh.

– Sản phẩm nấu canh thường có màu sắc, mùi vị đặc trưng của mỗi loại canh, vị ngon, ngọt của các loại nguyên liệu đem nấu.

3. Chần, nhúng, dội

Chần, nhúng, dội là phương pháp làm chín nguyên liệu bằng nhiệt nhận từ nước sôi trong thời gian ngắn. Nguyên liệu sau khi đã sơ chế bỏ vào nước sôi, đảo đều cho nguyên liệu tiếp xúc đều với nước hoặc dội nước sôi vào nguyên liệu đến khi nguyên liệu chín đạt yêu cầu chế biến.

– Nguyên liệu dễ chín hoặc nhanh chín. Nguyên liệu động vật chọn loại non, mềm, nạc như (tim, gan, bầu dục). Nguyên liệu thực vật chọn loại bánh tẻ, ít xơ, nhanh chín. Nguyên liệu được cắt thái nhỏ, mỏng để dễ chín và chín đều.

– Lượng nước sử dụng phải nhiều để khi bỏ nguyên liệu vào nhiệt lượng của nước giảm đi không đáng kể, không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng sản phẩm (Giảm dinh dưỡng, hay bị dai do chế biến lâu).

– Nhiệt độ khi chần, nhúng, dội luôn luôn sôi mạnh, đều liên tục.

– Thời gian sản phẩm tiếp xúc với nước sôi rất nhanh khoảng một vài phút hay chỉ vài chục giây.

– Sản phẩm chần, nhúng, dội chín tới, hoặc chín tái, ăn giòn. Màu và mùi vị của nguyên liệu biến đổi ít. Sản phẩm có thể sử dụng ngay hay chế biến tiếp.

4. Ninh, hầm

Ninh, hầm là phương pháp chế biến làm chín nguyên liệu bằng nước trong thời gian dài, nguyên liệu chín mềm, nhừ. Món ninh chủ yếu là lấy nước thường được sử dụng làm nước dùng cho các món Á, Âu. Hầm được dùng chủ yếu để lấy nước dư cho chế biến xốt Âu. Nguyên liệu được sơ chế cụ thể tùy theo mỗi loại, được bỏ vào nước lạnh (xương thịt gia súc, gia cầm), nước sôi (thủy sản), đun sôi, hớt bọt rồi giảm nhiệt, đun sôi nhẹ tới khi các nguyên liệu chín đạt yêu cầu thì lọc lấy nước trong, đun sôi lại, nêm gia vị chờ chế biến tiếp. Gia vị thơm được xử lý, cho vào trong quá trình nấu.

– Nguyên liệu để ninh, hầm khá phong phú. Nguyên liệu động vật bao gồm: gia súc, gia cầm, cá… Nguyên liệu thực vật bao gồm các loại củ giàu tinh bột, các loại rau, một số nguyên liệu khô và gia vị. Món ninh, hầm có thể nấu từ một loại hay nhiều loại nguyên liệu. Các gia vị thơm được sử dụng làm tăng thêm chất lượng cảm quan của món ăn như hành củ khô, gừng, hoa hồi, thảo quả, quế chi, nụ đinh, lá nguyệt quế… Thịt pha miếng to, xương chặt miếng, xương ống thì đập dập. Củ thái khối hay vát móng lợn. Món ninh cắt thái to hơn món hầm. Món ninh nguyên liệu thường được rửa sạch trước khi nấu để tránh làm nước dùng bị vẩn đục, món hầm nguyên liệu có thể được xào qua.

– Lượng nước nhiều hơn cái do nhu cầu lấy nước của món ninh là chủ yếu. Tỷ lệ cái và nước món ninh là 1/8 hay 1/10, món hầm tỷ lệ 1/2 hay 1/3.

– Nhiệt độ chế biến thường chia 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu đun sôi, hớt bọt rồi đun nhỏ lửa, đối với món ninh việc hớt bọt đảm bảo cho nước dùng trong, không bị đục. Giai đoạn sau đun nhỏ lửa để nguyên liệu chín dần vào trong đạt đến độ cần thiêt.

– Thời gian ninh, hầm thời gian kéo dài tùy theo từng loại nguyên liệu. Ví dụ: Ninh xương trâu, bò thời gian từ 8-10h; xương lợn, gia cầm từ 3-4h; cá từ 1,5-2h; rau củ 1-1,5h. Thời gian ninh lâu hơn hầm.

– Sản phẩm đối với món ninh yêu cầu nước phải ngọt, trong, không đục, xương phải dóc thịt, nước dùng thơm mùi của các gia vị cho vào khi đun nấu. Đối với món hầm nhu cầu lấy cái là chủ yếu nước ít, hơi sánh; nguyên liệu chín mềm, nhừ, không nát, không bã (do các chất dinh dưỡng chuyển vào nước). Các món hầm nguyên liệu thường được tẩm ướp qua nên sản phẩm có màu, hương vị hấp dẫn. Sản phẩm món hầm sử dụng ngay, món ninh thường sử dụng chế biến tiếp.

5. Kho, rim

Kho và rim là phương pháp làm chín nguyên liệu bằng nước có gia vị tạo màu, có mùi, vị đặc trưng, sản phẩm chín mềm nhừ, có độ mặn cao. Nguyên liệu được xếp vào dụng cụ, (nguyên liệu động vật có thể được xào, rán qua). Gia vị cần thiết kết hơp với nước, gia vị tạo màu rồi cho vào nguyên liệu đun sôi kỹ giảm nhiệt độ để nguyên liệu chín mềm cạn hoặc còn nước sánh.

– Nguyên liệu để kho, rim là động vật như: cá, tôm, thịt; nguyên liệu thực vật như củ cải, su hào, dưa cải; gia vị như: riềng, mẻ, mắm tôm, nghệ, gừng, ớt nước dừa, sả… Nguyên liệu động vật thái to (thịt) hay cắt khúc (cá), nguyên liệu thực vật thái khối to. Nguyên liệu đông vật có thể ướp gia vị, cá có thể rán trước. Các món kho có thể sử dụng nhiều nguyên liệu động vật hoặc kho lẫn nguyên liệu thực vật, các món rim chỉ dùng một loại nguyên liệu.

– Lượng nước trong các món kho xăm xắp; rim ít hơn.

– Nhiệt độ chỉ cần sôi nhẹ tới khi nguyên liệu chín mềm.

– Thời gian chế biến các món kho thường lâu khoảng 1-2 h, rim từ 10-25 phút.

– Sản phẩm kho và rim thường có màu vàng cánh gián, tới màu nâu thẫm, vị hơi mặn, nguyên liệu chín mềm, nguyên miếng. Món kho độ mặn cao hơn rim, nước kho thường ít hơn rim. Kho khô thường áp dụng với nguyên liệu có mùi tanh như cá. Kho còn nước sánh như thịt lợn kho tầu, thịt bò kho gừng…

6. Om

Om là phương pháp làm chín bằng nước có sự tham gia của gia vị chua, có mùi thơm của gia vị đặc trưng, nguyên liệu chín mềm. Nguyên liệu sơ chế cụ thể tùy theo từng loại, ướp gia vị, xào hoặc rán qua rồi xếp vào dụng cụ, thêm nước dùng hoặc đun sôi nước pha các loại gia vị vào, đun nhỏ lửa tới khi nguyên liệu chín mềm, nước xốt sánh.

– Nguyên liệu om thường là nguyên liệu động vật như: thịt, cá, lươn… Nguyên liệu chọn những phần thịt mềm, để nguyên hoặc pha miếng đều nhau.

– Lượng nước dùng để om tương đối ít thường lấy nước ướp nguyên liệu ban đầu.

– Nhiệt độ đun nấu chỉ cần sôi nhẹ để nguyên liệu chín tới và ngấm gia vị.

– Thời gian đun nấu nhanh vì nguyên liệu đã được xào, rán qua, chất lượng nguyên liệu loại non mềm, dễ chín.

– Sản phẩm om chín mềm, không nát, có ít nước sánh. Vị hơi chua dịu, nổi màu và mùi thơm của gia vị đặc trưng

– Sản phẩm om chín mềm, không nát, có ít nước sánh. Vị hơi chua dịu, nổi màu và mùi thơm của gia vị đặc trưng

Nguồn ” Sưu Tầm”

Phần mềm quản lý mầm non KIDSOFT luôn cập nhật những tính năng mới, những sáng tạo của các đầu bếp hàng đầu trong nước đẻ làm các món ăn đầy đủ dinh dưỡng và xây dựng thực đơn ăn cho các cháu phong phú hơn…

Đang tải…

Bạn đang đọc nội dung bài viết 6 Món Ăn Chay Theo Phương Pháp Thực Dưỡng Ohsawa Đơn Giản Ngon Miệng trên website 10giayxantay.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!