Top 4 # Xem Nhiều Nhất Món Ngon Tây Sơn Bình Định Mới Nhất 2/2023 # Top Like | 10giayxantay.com

Võ Cổ Truyền Tây Sơn Bình Định

Trải qua hơn 40 ngàn năm dựng nước và giữ nước, với bao thăng trầm của lịch sử, võ cổ truyền của Việt Nam luôn gắn bó chặt chẻ với tiến trình phát triển của đất nước. Mạch nguồn võ học khi tung trào dào dạt, khi âm ỷ chảy trong lòng dân tộc Việt. Trở thành nét tinh hoa văn hóa vô cùng độc đáo, quý giá mà mỗi khi nhắc tới mỗi người Việt Nam đều cảm thấy vô cùng tự hào.

Võ sư – nhà nghiên cứu Phạm Phong cho biết: ” Các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần thì võ cổ truyền dân tộc đã được nâng thêm một bậc, đến năm 1721, dưới thời vua Lê Dụng Tông thì võ cổ truyền dân tộc chính thức nâng lên thành võ cổ truyền dân tộc Việt Nam.

Theo thời gian, các dòng võ cổ truyền dân tộc Việt Nam, tiêu biểu là võ Tây Sơn Bình Định đã có mặt khắp nơi đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng của dân tộc.

Theo võ sư Hà Trọng Ngự, võ Tây Sơn Bình Định có những đặc điểm là nằm trong hệ thống chiến đấu tự vệ rất tốt. Đặc trưng của loại võ này là đánh cận chiến, đánh nhập nội nên luôn luôn tìm mọi cách áp sát đối phương để đánh, dùng gối chỏ rất nhiều, dùng đòn sát phạt gây tổn hại đến đối phương, uyển chuyển tránh né hoặc lặn, lành, hoành, bắt, lắt, liếc rất đa dạng để dùng trong tự vệ. Chứ không phải là một môn võ dùng để tấn công mà dùng để tự vệ là chính. Tấn công là phụ nên đó là đặc trưng nổi bật.

Nhân sinh quang của người học võ là triết lý động, linh hoạt, uyển chuyển và luôn song hành cùng với những chuẩn mực của xã hội. Đó là đạo hiếu làm con, đạo nghĩa là trò, đạo tín làm bạn và đạo của những người học võ. Người học võ chân chính không bị lu mờ trước vật chất, không chịu khuất phục trước quyền uy, thấy bất công thì không chịu khoang tay đứng nhìn, gặp hiểm nguy thì không màng đến tính mạng. Ngàn đời nay biết bao con người thượng võ trên đất nước này đã xả thân vì nghĩa lớn. Họ có thể là những tên tuổi được ghi trong sổ sách, nhưng cũng có người vô danh song những cống hiến và hi sinh của họ cho nhân dân, cho đất nước thì vẫn được những thế hệ đi sau mãi ghi nhớ.

Là một trong số không nhiều nước châu Á có nền võ học dân truyền với hệ thống hết sức đầy đủ và khoa học từ võ đạo đến võ lý hàm chứa trong đó những giá trị văn hóa dân gian vô cùng quý giá. Võ cổ truyền dân tộc giúp cho chúng ta có một thân thể cường tráng, một sức khỏe dẻo dai, một tinh thần minh mẫn và đặc biệt là một bản lĩnh vững vàng, sẵn sàng vượt qua một gian khó. Võ cổ truyền dân tộc còn nhắc nhở chúng ta nhớ đến cuội nguồn, nhớ đến bản sắc văn hóa của dân tộc, nhớ đến công sức máu xương mà cha ông ta đã dày công gây dựng nên. Nền võ học dân tộc Việt Nam còn chứa đựng trong đó cả 4000 năm lịch sử dựng nước vào giữ nước. Và đó là một kho nghệ thuật dùng binh hết sức biến hóa và tài tình, là kết tinh của trí tuệ và bản lĩnh việc nhưng rất đáng tiếc là từ sau ngày đất nước thông nhất đến nay các ngành chức năng không quan tâm tổ chức nghiên cứu sưu tầm để bảo tồn, chấn hưng, vinh danh và truyền bá sâu rộng trong và ngoài nước đồng thời gìn giữ cho muôn đời sau những di sản văn hóa phi vật thể thiêng liêng của dân tộc nhằm giữ vững bản sắc văn hóa Việt và tự hào truyền thống nền văn học võ tộc. Và mãi đến nay, không phải quốc gia nào cũng có được.

Vậy nên đến đây phần lớn các di tích lịch sử về võ học, các công trình võ miếu, võ kinh, võ cữ, doanh nhân anh hùng đại võ công, võ tướng, võ quan, võ sư tài ba lỗi lạc có công lớn cho đất nước qua các triều đại, các làng võ, miền đất võ, dân tộc võ, uyên bác văn võ, sách sử bài võ, các chuẩn loại binh khí cũ, các bài tập kinh điểm huyệt bị mai một, tiêu hủy, thất truyền. Đây là một tổn thất rất lớn cho các di sản hiếm hoi còn sót lại của nền võ học dân truyền dân tộc.

Trong những năm gần đây với sự cố gắn của ngành văn hóa thể thao và liên đoàn võ thuật Việt Nam đã xây dựng và phát triển võ cổ truyền dân tộc đến các tỉnh, thành phố trong cả nước và một số nước trên thế giới.

Món Ngon Bình Định: Bánh Cuốn Tây Sơn Nức Nức Tiếng

Bánh cuốn Tây Sơn – Đặc sản Bình Định ngon nức tiếng

Món ăn đặc sản nổi tiếng này gồm có bánh tráng nhúng nước rồi cuốn kèm với thịt nướng, rau sống, nem, chả ram, chả lụa, trứng vịt, đậu chiên,… chấm với nước mắm được pha đậm đà, tạo nên một hương vị hòa quyện tuyệt vời.

Theo lời kể của những bậc cao niên ở thị trấn Phú Phong (Bình Định), bánh cuốn Bình Định ban đầu chỉ gồm có bánh tráng cuốn với cơm nguội, là món ăn “chống đói” của người nông dân mỗi khi ra đồng.

Tương truyền rằng, món ăn chủ đạo của nghĩa quân Tây Sơn mỗi khi hành quân đường dài là bánh cuốn bởi nó dễ chế biến, dễ mang theo lại no lâu, đã giúp nghĩa quân đảm bảo sức khỏe lập nhiều chiến công hiển hách.

Qua thời gian thì bánh cuốn Tây Sơn đã trở thành một món ăn truyền thống với nguyên liệu ngày càng đa dạng, phong phú, đặc biệt nó còn được dùng làm quà mang về trong các dịp cưới hỏi, giỗ chạp,…

Thịt nướng phải là loại thịt được ướp 1 ngày 1 đêm để gia vị ngấm vào trong từng thớ thịt, nướng chín tới. Chả ram với tôm thịt, đậu xanh, bún khô cuộn lại nhỏ bằng ngón tay rồi đem chiên giòn. Trứng vịt nhất định phải là của loại vịt chạy đồng với lòng đỏ to, vàng ươm.

Đậu hũ chiên không quá non cũng không quá giòn, chín tới vừa đủ, có màu vàng nhẹ. Khi ăn, bạn sẽ cảm nhận được vị bùi bùi, ngậy ngậy của miếng đậu mềm vỡ ra hòa quyện với những nguyên liệu khác.

Rau cuốn bao gồm dưa chuột, rau thơm, giá đỗ,… với loại giá đỗ trồng tại nhà có vị thanh mát. Tất cả các nguyên liệu trên được đặt vào giữa miếng bánh tráng lớn rồi cuộn chặt lại với hai đầu bóp lại thật gọn, thật khéo, to gần bằng cổ tay.

Chén nước mắm chấm cũng rất quan trọng

Một bát nước chấm chuẩn được pha từ nước mắm nguyên chất cùng với tỏi, ớt, đậu phộng rang xay nhuyễn, xào chín. Bát nước chấm sóng sánh, thơm thơm, đậm đà tạo nên hương vị đặc trưng của món bánh cuốn Tây Sơn.

Khi ăn phải cắn từ từ, cắn một miếng bên trái rồi cắn tiếp một miếng bên phải, cuối cùng là cắn ở giữa bánh cho bằng theo đúng kiểu “tả – hữu – tề” của người dân địa phương.

Miếng bánh tráng mềm dẻo hòa quyện cùng với vị đậm đà của thịt nướng, nước chấm, vị bùi ngậy của trứng vịt, đậu chiên, chả ram lẫn với vị thanh mát của rau sống,… tạo nên một cuốn bánh ngon tuyệt vời, ăn một lần là nhớ mãi, hấp dẫn, thu hút bất kì du khách nào khi đến với Bình Định.

(Bài và sưu tầm)

Nếm Vị Đắng Ngọt Đặc Sản Món Dé Bò Tây Sơn Bình Định

Tương tự như nậm pịa là món ăn truyền thống của bà con dân tộc Thái ở vùng núi cao Tây Bắc đã rất nổi tiếng, Dé Bò là món không phải ai cũng có thể ăn được và dũng cảm thử. Đó là món ăn làm tư nhiều loại nội tạng bò như huyết bò, lòng, phổi, lá xách, cật…và còn có cả…phân non.

Dé là cách gọi của người miền Trung là chất dịch sền sệt trong ruột non của các loại động vật ăn cỏ như trâu, bò, dê, còn được gọi là phân non.

Bí quyết để có món dé ngon chính là ở các loại lòng bò và dé. Lòng phải là là loại mới lấy ra từ con bò, sờ vào cảm giác còn ấm là loại tươi mới nhất. Lá dang ở miền trung thường mọc dại ở trong rừng, thường có vị chua và vị chát đặc trưng, người dân nơi đây hay dùng lá dang để nấu canh chua. Sau khi chần qua nước sôi, lòng bò được cắt thành các miếng vừa ăn rồi ướp các loại gia vị: chút muối, tiêu, bột ngọt, hành tím, ớt và không thể thiếu sả băm để tăng thêm hương vị.

Nước sôi cho vài tép sả đập dập, sau đó thả lá dang và phần dé đã ướp sôi bùng vài phút cho mềm, cuối cùng là cho phần dé vào và nhắc xuống là có thể thưởng thức Trước khi múc ra, bỏ giá sống vào tô cho giá kịp chín, rắc lên các thứ rau mùi xắt nhỏ: ngổ, hành ngò, rau răm, lá lốt, mấy lát ớt..Món dé bò thường ăn kèm với bún và cả bánh tráng nướng.

Vị ngọt mềm của mấy lát gan, tụy, thêm chút nhân nhẩn của dé, chút thơm các thứ rau mùi và giòn giòn rau giá, bánh tráng, nhất là tất cả cùng về hùa với lá dang chua chua, chất xin xít lưỡi của nước ruột dé làm nên một tổng phổ đủ cung bậc quyến rũ trên đầu lưỡi. Dé bò ăn vào cảm giác đắng lúc đầu nhưng xong lại có vị ngọt đọng lại trong cuốn họng, hương vị khó quên cho những ai đã từng thưởng thức.

Ngày nay, lo sợ dé bò không còn sạch như xưa và an toàn thực phẩm nên người dân thường dùng khổ qua và lá khổ qua thay thế, xay lấy nước để lấy vị đắng như món dé ban đầu.

Trời vào mùa mưa rả rich, những cơn mưa dai dẳng của mảnh đất miền trung, một tô dé bò và thêm xị rượu bầu đá là có thể lai rai ấm bụng.

Đặc Sản Ẩm Thực Tây Sơn

1. Món ngon: Chim mía Phú Phong

Trong đồng mía bạt ngàn của đất Tây Sơn, tỉnh Bình Định có một loài chim nhỏ, cư trú từng đàn. Người ta gọi đó là chim mía Tây Sơn. Thịt chim mía thơm và ngọt, có thể nướng hoặc rán, nhâm nhi cùng rượu Bầu đá hoặc rượu nấu nguyên chất từ đậu xanh thì tuyệt.

“Ai về Kiên Mỹ, Phú Phong Ăn con chim mía thỏa lòng ước ao”

Huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định có thị trấn Phú Phong, là quê hương của Quang Trung Nguyễn Huệ. Đây thuộc Tây Sơn hạ đạo, một vùng trung du bán sơn địa, với lưu vực sông Côn từ xưa bạt ngàn đồng mía.

Trong đồng mía ấy có một loài chim nhỏ hơn con se sẻ, cư trú từng đàn trong đám lá mía, mỗi đàn đông tới cả ngàn con. Người ta gọi là chim mía Phú Phong, món đặc sản ưa chuộng của du khách đến thăm quê hương Nhà Tây Sơn.

Muốn đánh bắt chim mía, người ta dùng cái trủ như tấm lưới, căng suốt bờ ruộng cao hơn ngọn mía, cầm sào dài đập vào lá mía, rung đuổi chim, cứ thế chúng chuyền dần vào trủ. Những chú chim mía béo tròn sau khi vặt lông, hơ qua lửa cho cháy hết lông tơ, còn lại như một miếng thịt nạc rửa sạch, mổ moi ruột rồi ướp gia vị gồm muối hạt giã nhỏ với ớt, hành, hạt tiêu, thêm ít bột ngọt.

Món ngon nhất là nướng và rô-ti. Nướng thì mổ banh chim, ướp gia vị rồi ép vào cặp đưa trên lò than hồng. Lật vài lượt, mỡ chảy ra xèo xèo thơm lừng cả xóm. Chim rô ti thì thả vào chảo dầu đậu phụng vừa sôi, chỉ mươi phút là chim vàng rộm, xương thịt giòn tan. Những chú chim xếp ra đĩa, rắc lên trên ít hạt vừng rang cho đẹp mắt là có thể thưởng thức. Chim mía mà có rượu trắng chính hiệu Bàu Đá nhâm nhi thì cứ gọi là đệ nhất anh hào. Thịt chim mía thơm mà ngọt đầm, đậm đà hương vị.

Những người sành chim mía, thường chọn những con đầu nhỏ, mỏ ngắn, nếu không tinh sẽ nhầm chim áo giá (áo đà) là loại chim đầu to, mỏ dài, thịt nhạt đánh lừa du khách, vì loại chim này không ngon.

Đồng mía Tây Sơn – Phú Phong ngút ngát xanh, là chỗ cho chim mía ngày càng nảy nở sinh sôi đãi mời du khách gần xa.

2. Bánh hỏi – miếng ngon đất võ

Không giống như bún, cũng không giống bánh cuốn, bánh ướt… Người dân đất võ Tây sơn (Bình Định) có thói quen ăn bánh hỏi bất cứ lúc nào trong ngày.

Ăn sáng bằng bánh hỏi với lòng heo, ăn bánh hỏi bữa trưa khi không nấu được cơm, tối đi chơi về thấy đói cũng có thể ra phố mua nửa cân bánh hỏi về ăn…Theo những người già kể lại, bánh hỏi có từ xưa, là thứ bánh lạ, lúc đầu mới làm ra, ai thấy cũng hỏi là bánh gì? Từ đó, cái tên bánh hỏi được khai sinh.

Cùng họ với bánh hỏi có bánh tráng, bánh đúc, bánh ít và bún. Bánh hỏi là biến thể của bún tươi. Nhận thấy sợi bún lớn, ăn không ngon nên người thợ chế biến làm cho sợi bún nhỏ lại. Bánh hỏi và bún có cách chế biến tương tự nhưng bánh hỏi được làm cẩn thận và công phu hơn.

Gạo thơm vo kỹ, ngâm nước một đêm rồi vớt ra xay nhuyễn bằng cối đá. Cứ dăm ba vòng xay lại thêm một ít nước để cối khỏi “nghẹn”. Bột nước là một hỗn hợp sền sệt được cho vào bao vải khô, “đăng” cho ráo nước. Hấp bột vừa đủ chín, nhồi và chia thành từng khối chừng nửa kilôgam rồi đưa vào khuôn ép thành bánh.

Khuôn bánh hỏi là khối ống bằng đồng, đường kính chừng bảy, tám phân, chiều cao chừng hai mươi phân. Phần miệng ống hơi loe để tựa vào bàn gỗ. Đáy ống có một rá dày chừng vài ly, có nhiều lỗ nhỏ, vừa cỡ kim may luồn qua được. Bánh hỏi ngon hay không phụ thuộc nhiều vào lá đồng này. Lỗ nhỏ quá, bột không qua, lỗ lớn quá sợi bánh sẽ lớn ăn không ngon.

Để ép bánh, người ta dùng một khối gỗ vừa lòng khuôn, ép cho bột chảy ra. Bột khá đặc, lỗ lại nhỏ nên thợ phải dùng hệ thống đòn bẩy để tạo sức ép lớn. Một người ép một người bắt bánh. Mỗi lần ép đòn bẩy xuống là những vòi bột xoăn xoắn tuôn ra. Người thứ hai đưa tay hứng lấy và ngắt ra từng đoạn chừng 10cm, sau đó đem hấp cách thủy một lần nữa mới hoàn thành.

Khi ăn, người ta thêm chút dầu phụng cùng với lá hẹ thái nhỏ li ti thoa lên miếng bánh để thêm hương vị. Người dân đất võ có câu: “Mưa lâm râm ướt dầm lá hẹ; Em thương một người có mẹ không cha; Bánh xèo bánh đúc có hành hoa; Bánh hỏi thiếu hẹ như ma không kèn”. Lá hẹ chỉ ăn với bánh hỏi, không dùng cho các thứ bánh khác. Hẹ tuy cùng họ với hành, tỏi nhưng lá rất xanh, hương lại nhẹ nên rất hợp với bánh hỏi. Lá hẹ sau khi thái nhỏ, được xào qua dầu ăn cho thơm. Hương vị chính của món bánh hỏi là do lá hẹ khử dầu tạo nên, vừa thơm vừa bùi mà không cần đến bất kỳ thứ rau thơm nào ăn kèm.

Vì bánh hỏi là món ăn không thể thiếu trong những dịp lễ, cúng giỗ, cưới hỏi của người dân Bình Định nên ở các vùng quê làm bánh hỏi chuyên nghiệp như huyện Tây Sơn, An Nhơn, Tuy Phước một ngày có thể tiêu thụ cả trăm kilôgam bánh.

Bánh được xếp vào giỏ tre có lót lá chuối nhưng không đậy kín. Bánh hỏi cũng như bún, không kén món ăn kèm. Nếu muốn đơn giản, có thể chan nước mắm chanh ớt hoặc mắm cái rồi ăn liền. Nhưng thường thì người ta ăn bánh hỏi kèm thịt heo luộc cuốn bánh tráng với dưa leo thái mỏng. Cầu kỳ hơn, bạn có thể vào nhà hàng chuyên phục vụ món bánh hỏi ở thị trấn Phù Mỹ, có đến hơn 10 món để chọn lựa: bánh hỏi chả giò, bánh hỏi lòng heo, bánh hỏi thịt nướng, bánh hỏi chạo tôm, bánh hỏi tôm càng, bánh hỏi thịt bò nướng, bánh hỏi bò lụi, bánh hỏi gà lụi…

Theo dulich.tuoitre.com.vn

3. Dé bò – Đặc sản của đất Tây Sơn.

Về Tây Sơn, đất võ nổi tiếng của anh em Quang Trung Nguyễn Huệ, bạn đang có trước mắt mình mấy món ăn nổi tiếng: chim mía, cá lúi sông Côn và dé bò. Dé bò thì nhiều nơi có. Cái độc đáo, cái khác của dé bò Tây Sơn là cách chế biến: dé bò nấu lá dang.

Dé là ruột non nhưng món dé Tây Sơn bao hàm cả các thứ lòng chay, thêm huyết, lòng lá xách… Lá dang là bí quyết. Cách làm khá đơn giản. Các thứ lòng chay cắt miếng vừa miếng, ướp gia vị: chút muối, tiêu, bột ngọt, hành. Vài tép sả đập dập thả vào nồi nước nấu. Nước sôi thả lá dang và phần dé đã ướp sôi bùng vài phút. Nêm cho vừa miệng. Là có món. Bỏ giá sống vào tô rồi múc nước, dé. Rắc lên các thứ rau mùi xắt mỏng: ngổ, lá lốt, ngò tàu, rau răm, mấy lát ớt… Khi ăn phải có bánh tráng nướng. Bạn múc ra chén, có nước có cái, bẻ bánh tráng vào là ăn. Vị ngọt mềm của mấy lát gan, tụy, thêm chút nhân nhẩn của dé, chút thơm các thứ rau mùi và giòn giòn rau giá, bánh tráng, nhất là tất cả cùng về hùa với lá dang chua chua, chất xin xít lưỡi của nước ruột dé làm nên một tổng phổ đủ cung bậc quyến rũ trên lưỡi. Người thích thêm vị nhẩn thì yêu cầu bỏ vào tô mớ lát khổ qua. Nhẩn thêm đã có sẵn chén mật bò chủ quán để sẵn cứ gia vào theo khẩu vị của mình. Và dĩ nhiên, nước mắm gừng loang loãng. Bánh tráng cắn thêm cho rôm rả và trái ớt kim. Nhẩn ngọt, cay cay, thơm ngon vị bò và nhất là rất bổ dưỡng. Bạn chắc chắn sẽ yêu cầu kèm theo món ăn này xị rượu. Bốn người, tô dé, vài cái bánh tráng, vài xị rượu, hơn 30 ngàn thấy đủ cho thợ thuyền hay công chức chiều nào lai rai.

Ở Bình Định món dé bò Tây Sơn đã thành quen thuộc ngon miệng cả cho các bà xã chứ không riêng dân nhậu. Tại thị trấn Phú Phong nơi nào cũng có món đặc sản này. Bạn về thăm Bảo tàng Quang Trung hay ngoạn thắng cảnh Hầm Hô, tháp Dương Long lúc nào cũng có thể dừng lại thưởng thức.

(Nguồn: website báo Bình Định)

Về với Tây sơn

Anh Về Tây Sơn buổi trưa Chợ Phú Phong vắng người Mấy túp lều ngái ngủ Anh đứng bần thần góc phố chợ Có phải đất này là nơi mẹ sinh em?

Phố huyện nghèo bên bờ sông Côn Mẹ buôn bán tảo tần nuôi em khôn lớn Mộc mạc lúa khoai mà nên nhan sắc Con gái Tây Sơn đẹp nghiêng núi nghiêng đồi

Rượu Bầu Đá nồng, chim mía Phú Phong ơi Bịn rịn hơi men níu chân người ở lại Cái bữa chúng mình qua cầu thăm nhà nội Bà nướng bánh đa vừng đến giờ vẫn giòn thơm

Rất lạ lùng Rất quyến rũ Tây Sơn Quê hương người anh hùng áo vải Nơi chén rượu nhấp môi nồng đến cháy Nơi quanh năm chim mía gọi nhau về Nơi anh có em và có bạn bè Nơi nước sông Côn không bao giờ ngừng chảy Như nhớ thương của anh đi về nơi đó mãi Xin một phần đời ở lại với Tây Sơn.